Ho là phản nghịch xạ xảy ra đột ngột và lặp đi lặp lại nhằm làm sạch đường thở khỏi bị ứ đọng danh thiếp chất dịch tiết, chất kích thích, đánh vật lạ, vi khuẩn… Vào mùa hè, dưới tiết trời đất ơi nắng nóng, thân thể ra nhiều mồ hôi, cộng với việc bị đổi thay nhiệt độ đột ngột khi ra vào phòng điều hòa… thành ra cũng rất dễ bị ho. Các dạng ho thường gặp Ho là một cơ chế sinh lý
bảo vệ cơ thể, nhưng cũng là triệu chứng của một số bệnh
thuốc trị vết thương thuốc trị vết thương. Ho gây phiền phức trong hoá hoạt hàng phục ngày bởi vì đó cần được điều động trị dứt điểm. Thông thường hay gặp hai loại ho: ho khan và ho có đờm.
Ho khan: thường gây ngứa họng và không có đờm, loại ho này có thể gây khàn giọng mê hoặc mất giọng. Ho khan thường là bởi vì hít phải những mẩu vụn thực phẩm huyễn hoặc hít phải danh thiếp loại khói bụi gây kích thích như khói thuốc, khói than, mùi hóa chất hoặc có trạng thái làm phản ứng của thân thể khi thời tiết đổi thay đột ngột.
Ho khan có trạng thái vì tình trạng mới nhiễm vi rút, vì chưng cúm hay cảm lạnh, có thể là triệu chứng của các nguyên do khác như hen truất phế quản, trào ngược dạ dày, thực quản, suy tim. Một mệnh người sử dụng các thuốc ức chế men chuyển điều động trị tăng huyết áp cũng có thể gây ho khan, khi ngừng thuốc sẽ hết ho. Bệnh nhân dịp ho khan thường vẫn cảm thấy khỏe mạnh, không có cảm giác nặng ngực và khó thở.
Khi có hiện tượng ho kéo dài, cần đến bác sĩ ngục tù điều trị. Ảnh: M. Thuận Ho có đờm: có đặc thù là nặng ngực và cơn ho thường khạc ra chất nhầy và đờm. Bệnh nhân dịp có cảm giác nghẹt thở và khó thở, thường làm cho người bệnh mệt lả. Các triệu chứng thường tăng lên khi đi bộ và nói chuyện. Ho đờm có thể là triệu chứng còn lại sau khi viêm họng, viêm mũi và viêm xoang… Nguyên nhân gây ho thường tùy thuộc vào thời kì xuất hiện triệu chứng.
Các thuốc trị ho Thuốc chữa ho có nhiều loại như siro, viên uống, viên ngậm với nhiều thành phần khác nhau như: chất kháng khuẩn, giảm đau, kháng viêm huyễn hoặc thuốc tê.
Thuốc đặc trị ho khan: codein, eucalyptine, dextromethorphan, pholcodine, calyptin, chericof, neo-codion…
Thuốc trị ho có đờm: mucomyst, mucusan, rinathiol promethafine, terpicod, terpin hydrat… Thông thường mỗi đợt điều trị chỉ thành ra sử dụng từ 3 – 5 ngày, không sử dụng kéo dài.
Ho có đờm thường liên quan đến các bệnh đường hô hấp mạn tính. Việc sử dụng danh thiếp thuốc long đờm, tiêu chất nhầy, giãn phế truất quản phối hợp với corticoid, danh thiếp enzym (serrapeptase hoặc chymotrypsin) và kháng đâm ra là khá hữu ích. Tuy nhiên, các thuốc long đờm, tiêu chất nhầy giúp làm tăng trạng thái tích các dịch tiết đường hô hấp để chúng dễ bị bật ra ngoài, tránh vướng cổ gây khó chịu.
Thuốc có thể gây danh thiếp cục đờm, đôi khi làm ách tắc đường thở, có trạng thái gây tràn dịch phổi (ngập) và phá hỏng lớp chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày. Cần thận trọng với người có chỉ sử loét dạ dày – tá tràng. Không sử dụng loại thuốc này cho người suy hô hấp, hen suyễn, trẻ em và đàn bà cho con bú.
Lưu ý đặc biệt khi điều động trị ho Ho chỉ là triệu chứng của một bệnh thành ra việc điều động trị ho phải đồng thoại điều động trị nguyên do gây bệnh thì triệu chứng ho sẽ giảm. Trong trường học hợp ho khan vì cảm cúm, tiền cần điều động trị chứng cảm cúm thì tình trạng ho cũng dần dần tự khỏi.
Tuy nhiên, khi ho nếu thấy có kèm theo bất kỳ một trong những biểu hiện sau, bạn cần phải đi nhà giam bệnh ngay để có hướng điều động trị tích cực, tránh những biến chứng nguy hiểm: ho có đờm xanh, nâu gỉ, vàng, ho ra máu, ho ra mủ có mùi hôi; ho có kèm cặp đau ngực; ho có khó thở hay khò khè; có triệu chứng phù hai chân; ho thường tái đi tái lại vào ban đêm; ho ở người hút thuốc, khi triệu chứng này trở nên nặng hơn; sút cân đột ngột; sốt, vã mồ hôi; khản tiếng ở người ho mạn tính.
Không sử dụng thuốc làm giảm ho trong trường hợp ho có đờm (trong bệnh viêm phế quản mạn, giãn truất phế quản) bởi chưng ho được coi như cơ chế bảo vệ có lợi, làm sạch đường thở.
Khi dùng thuốc trị ho kết hợp nhiều thành phần gồm: kháng sinh, sát khuẩn (guaifenesin), opioid, các chất làm long đờm, tiêu chất nhầy, đặc biệt là danh thiếp chất giống giao cảm và kháng histamin – hai chất này có rất nhiều tác dụng phụ nặng nề với những người tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh mạch vành, bệnh tuyến giáp, glaucom, u phì hết sức tuyến tiền liệt, người mang thai, trẻ mỏ và người cao tuổi, người suy hô hấp, bệnh tim, tai biến huyết quản não.
Cần cân nhắc và cẩn trọng với danh thiếp biệt dược như ameflu, atussin, tiffy… vì đó đều là những thuốc kết hợp từ 3 đến 5 chất, ngoài tác dụng phụ lại còn tương tác bất lợi với danh thiếp thuốc khác dùng cùng lúc. Do vậy, người bệnh cần tuân thủ chặt đồng cân định của thầy thuốc.
Theo
DS Hồng Hà Sức khỏe và Đời sống
Comments[ 0 ]